Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa http://www.khamchuabenh.com/index.php Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học zh-cn Powered by Bo-blog 2.0.2 sp2 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4456 Những vấn đề thường gặp về hấp thu ở trẻ nhỏ <> Bệnh trẻ em Thu, 26 Aug 2010 07:24:48 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4456
Con tôi hay đi phân sống, trong phân có những thức ăn còn nguyên vẹn như lá rau, miếng dưa hấu. Có phải điều đó chứng tỏ khả năng hấp thu của cháu bị kém ?

Đúng thế. Khi thức ăn không được tiêu hóa hoàn toàn sẽ ảnh hưởng đến quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng. Ngoài ra, khả năng hấp thu còn bị giảm đi ở các bé có tình trạng dinh dưỡng kém, gầy yếu, xanh xao do thức ăn không được nhai, nghiền tốt và do giảm tiết dịch của các tuyến tiêu hóa. Kém hấp thu thường gây cho bé tình trạng rối loạn tiêu hoá kéo dài, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể lực, trí tuệ và sức khoẻ như có thể làm trẻ chậm tăng trưởng, suy dinh dưỡng, thiếu máu…

Có phải ngay từ lứa tuổi ăn dặm, bé đã có những biểu hiện này?

Bước vào độ tuổi ăn dặm, từ sau 6 tháng đến 3 tuổi, chế độ ăn của bé có sự thay đổi đáng kể: chuyển từ chế độ ăn sữa sang ăn thêm những thức ăn khác nữa. Nếu các bậc phụ huynh để sự thay đổi này diễn ra đột ngột, không tập cho trẻ từ từ thích nghi với chế độ ăn mới thì rất dễ làm cho trẻ bị rối loạn tiêu hóa, thể hiện qua triệu chứng đầy hơi, trướng bụng, táo bón, tiêu chảy, phân sống...

Làm sao để con tôi hấp thu tốt các chất dinh dưỡng? Có cần thiết phải sử dụng men vi sinh?


Để trẻ hấp thu tốt các chất dinh dưỡng, trước hết, chị cần đảm bảo chế độ ăn hàng ngày của bé được cung cấp đủ nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng ở một tỷ lệ cân đối thích hợp. Thức ăn được nấu chín kỹ, dễ tiêu hóa và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Chị có thể tăng cường khả năng hấp thu cho bé bằng cách sử dụng men vi sinh theo tư vấn của thầy thuốc để bổ sung các vi khuẩn có ích theo từng đợt, đúng chủng loại và liều lượng. Men vi sinh này sẽ giúp bé hấp thu tối đa các dưỡng chất cho cơ thể.

Trên thị trường có loại thuốc cốm nào bổ sung men vi sinh tốt, xin bác sĩ tư vấn?


Men vi sinh có ở các chế phẩm lên men từ sữa như yaourt, tuy nhiên, với bé bị rối loạn tiêu hóa, lượng men vi sinh trong yaourt không đủ giúp bé phục hồi lại hệ vi sinh đường ruột bị mất cân bằng. Các chế phẩm như cốm vi sinh Biobaby, Biovita…cung cấp men vi sinh có ích như Lactobacillus, Bacillus Subtillis, Clostridium Butyricum cần thiết cho hệ tiêu hóa, giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, ngăn chặn sự tăng sinh của các vi khuẩn gây bệnh. Được bổ sung men vi sinh, bé sẽ tiêu hóa thức ăn tốt hơn, cơ thể bé sẽ hấp thu được đầy đủ các chất dinh dưỡng về cả chất và lượng.  

Cốm vi sinh Biobaby có dễ sử dụng không và dùng như thế nào?

Cốm vi sinh thường có mùi vị thơm dịu và hình thức dạng cốm ăn hấp dẫn nên dễ khiến trẻ yêu thích. Sử dụng cốm vi sinh đúng liều lượng và thời gian, nhất là khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa do mất cân bằng của hệ vi sinh đường ruột sẽ giúp bé tiêu hóa hết thức ăn, hấp thu tốt các chất dinh dưỡng và hạn chế các triệu chứng đầy hơi, trướng bụng, táo bón…

Biobaby là chế phẩm cốm vi sinh được ưa chuộng tại Hàn Quốc suốt 50 năm qua. Tại Việt Nam, nhiều năm liền Biobaby được các bà mẹ, dược sĩ tin cậy và khuyên dùng vì hiệu quả trong việc giúp bé tăng hấp thu, tiêu hóa tốt.

Từ ngày 9/8 đến 6/9/2010, Biobaby phối hợp cùng Dantri mở diễn đàn với đề tài “Bé tăng hấp thu – tiêu hóa tốt”, để các bậc phụ huynh tham gia cùng trao đổi, chia sẻ và trổ tài xử lý những tình huống khó, thường gặp trong quá trình chăm sóc bé hấp thu và tiêu hóa. Mời các phụ huynh tham dự tại: http://dantri.comvisinh.com/Biobaby/ với giá trị  giải thưởng 5.000.000 đồng.

Quỳnh Hương

(PNO) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4360 Trẻ 1-5 tuổi sẽ được tiêm bổ sung văcxin sởi <> Bệnh trẻ em Thu, 05 Aug 2010 07:40:27 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4360
Theo lịch tiêm chủng mở rộng trước đây, trẻ được tiêm mũi sởi lần đầu khi 9-11 tháng tuổi và sau đó tiêm nhắc lại khi được 6 tuổi. Tỷ lệ mắc sởi đã được giảm một cách đáng kể. Tuy nhiên, trong những năm gần đây vẫn tiếp tục ghi nhận các vụ dịch lớn và trung bình.

Đặc biệt, trong năm 2009 đã xảy ra vụ dịch sởi qui mô lớn với hơn 7.000 ca. Dịch xảy ra trên toàn quốc và ở hầu hết các lứa tuổi, trong đó nhóm tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất là trẻ 1 - 5 tuổi (phần lớn trong nhóm này đã được tiêm chủng một mũi sởi).

Trước tình trạng đó, ngày 1/7/2010, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương đã có kế hoạch triển khai chiến dịch tiêm văcxin sởi bổ sung cho trẻ 1-5 tuổi trên toàn quốc để tăng tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng. Như vậy, trẻ sẽ được tiêm mũi sởi nhắc lại khi đã được đủ 18 tháng tuổi trở lên (chứ không phải đợi đến 6 tuổi như trước kia).

Những trẻ tiêm văcxin sởi hoặc sởi-quai bị-rubela trong vòng 1 tháng tính đến ngày tổ chức chiến dịch không thuộc đối tượng được tiêm chủng.

Tại Hà Nội sẽ tổ chức tiêm tại các trạm y tế xã (27-30/10), các trường tiểu học (26/10). Đợt tiêm cuối cùng tại cả 2 nơi trên sẽ từ 1/11-6/11.

Bệnh sởi có thể phòng được bằng cách tiêm văcxin sởi đầy đủ, đúng lịch.

Phương Trang
(vnexpress) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4334 Bé có thiếu canxi? <> Bệnh trẻ em Fri, 30 Jul 2010 08:56:15 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4334 Khi cháu hít vào thường có tiếng rít em nghe nói như vậy là hiện tượng thiếu caxi phải không bác sĩ?

Nguyễn Việt Anh (Thanh Trì - Hà Nội)

Trả lời:

Tất cả những biểu hiện của bé như bạn nói đều là bình thường ở tuổi này. Ở trẻ sơ sinh, hệ thống thần kinh, cũng như các hệ thống khác đều chưa phát triển hoàn thiện và sẽ được hoàn thiện khi bé lớn dần lên. Cũng bởi do hệ thần kinh chưa hoàn thiện nên cháu sẽ có những cử động không bình thường như vặn mình, giật mình (nhất là khi có tiếng động bất ngờ), nấc, rặn khi đi tiêu, đánh hơi nhiều...

Tất cả các biểu hiện trên thường gặp ở trẻ dưới 3 tháng tuổi và là biểu hiện bình thường, không phải là do thiếu canxi đâu bạn ạ. Vì vậy bạn không cần phải quá lo lắng. Cứ ăn uống và nghỉ ngơi thoải mái để có đủ sữa cho con bú nhé.

(Theo Dinh dưỡng)
]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4332 Lợi bất cập hại khi tự ý cho trẻ uống men vi sinh <> Bệnh trẻ em Fri, 30 Jul 2010 08:39:13 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4332

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bổ sung men vi sinh vẫn phải có hướng dẫn của bác sĩ.


Thấy cậu con trai 4 tuổi thi thoảng lại bị tiêu chảy, đầy bụng, nghĩ men vi sinh có thể giúp bé hết bệnh, chị Hương (quận 8, TP HCM) ra nhà thuốc mua cho uống. Gần một tháng sau, bé vẫn còn nguyên triệu chứng.

"Tôi cứ nghĩ đơn giản là hệ tiêu hóa của cháu không tốt nên cần bổ sung thêm men kích thích ruột", người mẹ cho biết.

Đưa con đến khám tại Trung tâm dinh dưỡng TP HCM sau hơn một tháng cho bé dùng men vi sinh nhưng vẫn không dứt chứng đầy bụng, kém ăn, chị Tuyết ở Đồng Nai được các bác sĩ cho hay, chị đã cho con dùng men vi sinh sai cách. Thay vì pha với nước nguội, chị lại hòa với nước sôi nên không có tác dụng.

Chị Nhung nhà ở Bà Rịa - Vũng Tàu thì thường xuyên bổ sung một loại chế phẩm có chứa men vi sinh, với mong muốn kích thích hệ tiêu hóa để cải thiện chứng biếng ăn của cậu con trai 6 tuổi. Tuy nhiên sau gần nửa năm, con trai chị vẫn không cải thiện nhiều về cân nặng. Đến khoa dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP HCM, để được tư vấn, phụ huynh này mới biết mình đã "chữa trị" sai bởi men vi sinh không có tác dụng tăng cân.

Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đức, ĐH Y Dược TP HCM cho biết, hiện có khá nhiều thuốc, chế phẩm có tác dụng giúp chức năng tiêu hóa tốt hơn, trong đó có men vi sinh (probiotic) chứa vi sinh vật có ích giúp cải thiện sự cân bằng của hệ tạp khuẩn ruột.

Giải thích nguyên nhân của việc bổ sung men vi sinh, ông Đức cho biết, trong con người hiện diện rất nhiều loại vi khuẩn tạo thành một quần thể gọi là tạp khuẩn ruột. Trong tạp khuẩn ruột, ngoài vi khuẩn gây hại còn có vi khuẩn có ích, các vi khuẩn này giúp tiêu hóa tốt thức ăn, tiêu sạch và tái hấp thu phần thức ăn còn sót lại ở ruột già, giúp tổng hợp vitamin nhóm B, K, đặc biệt là cân bằng với vi khuẩn có hại, làm cho vi khuẩn có hại không tăng sinh quá đáng gây bệnh.

"Vì các lý do như ăn uống không hợp vệ sinh, uống quá nhiều rượu bia, uống nhiều kháng sinh, có thể khiến vi khuẩn có hại lấn át dẫn đến tình trạng rối loạn đường ruột. Biểu hiện như tiêu chảy, khó tiêu, trướng ruột, giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng. Đây là lúc cần bổ sung men vi sinh", ông Đức cho biết.

Khẳng định vai trò của men vi sinh trong việc chữa trị chứng rối loạn tiêu hóa, tuy nhiên theo Tiến sĩ Đức, việc tự ý dùng và dùng dài lâu không mang lại kết quả như mong muốn.

"Men vi sinh thường có mặt trên thị trường dưới dạng thực phẩm chức năng, chính vì thế, người dùng không nên lạm dụng hoặc dùng để điều trị rối loạn tiêu hóa thay cho thuốc. Đặc biệt, những người bị viêm tụy cấp, phẫu thuật ruột thì không nên dùng men vi sinh vì sẽ có hại.

Về việc sử dụng men vi sinh, dược sĩ Nguyễn Anh Dũng, nguyên giảng viên Trường ĐH Y Dược TP HCM, cũng cho rằng, nếu người bệnh chưa được bác sĩ thăm khám để xác định nguyên nhân mà cứ bổ sung chế phẩm thì chưa chắc đã chữa được bệnh.

Còn theo tiến sĩ Phạm Hùng Vân, cùng công tác tại Trường ĐH Y Dược TP HCM, đó là chưa kể đến việc người mua chọn chế phẩm bị lẫn các loại vi sinh có hại, công bố loại vi sinh này nhưng thực ra là vi sinh khác, hoặc công bố trên bao bì hàm lượng vi sinh 'trên trời' nhưng thực tế lượng vi sinh có thực lại 'dưới đất'.

Về cách sử dụng, theo các chuyên gia vi sinh, người dùng không nên pha các chế phẩm men vi sinh với nước có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ cơ thể, hoặc "pha buổi sáng uống buổi chiều", vì như thế vi sinh sẽ bị chết. Việc đặt chế phẩm ở nhiệt độ không thích hợp cũng làm vi sinh bị chết.

"Ngoài việc dùng men vi sinh, các loại thức ăn như kim chi, sữa chua, dưa chua cũng góp phần cung cấp các loại men vi sinh có lợi. Tất nhiên các loại thực phẩm này phải đảm bảo an toàn vệ sinh", một dược sĩ cho biết.

Thiên Chương
(vnExpress) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4310 Viêm màng não ở trẻ - trẻ sơ sinh có nguy cơ mắc bệnh cao <> Bệnh trẻ em Wed, 28 Jul 2010 04:57:30 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4310
Đa phần nguyên nhân chậm trễ là vì những biểu hiện không rõ rệt và dễ nhầm lẫn của viêm màng não với các bệnh về hô hấp, cộng thêm sự chủ quan của một số phụ huynh, đến khi bệnh trở nặng thì khó mà tránh khỏi biến chứng.

Hầu hết lây qua đường hô hấp


Viêm màng não là tình trạng nhiễm trùng lớp màng bao bọc quanh não và tuỷ sống, thường do vi trùng hoặc virut gây ra. Bất cứ ai cũng có thể mắc phải bệnh này, nhưng nhóm đối tượng chính vẫn là trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên, trong đó trẻ sơ sinh thường có nguy cơ cao nhất.

Viêm màng não do virut (siêu vi): còn gọi viêm màng não vô trùng, thường ít nguy hiểm hơn do vi khuẩn và có thể tự khỏi trong 5 – 10 ngày hoặc lâu hơn, tuỳ sức đề kháng mỗi cơ thể. Loại này phổ biến nhất vào mùa hè, với những triệu chứng khá nhẹ và thường bị nhầm với bệnh cúm.

Viêm màng não do vi trùng (vi khuẩn): loại này đặc biệt nghiêm trọng. Có trên 50 loại vi khuẩn gây bệnh, phổ biến nhất là: viêm màng não, phế cầu khuẩn, Haemophilus influenza tuýp B (Hib), Streptococcus tuýp B (GBS), E. Col, isteria… Trong đó, H. influenza B (Hib) là nguyên nhân chính của hầu hết trường hợp viêm màng não do vi trùng, thường xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới năm tuổi.

Viêm màng não đa phần lây truyền qua đường hô hấp (ho, hắt hơi, dịch mũi...) hoặc do tiếp xúc thông thường. Cho dù là viêm màng não do virut hay vi khuẩn, bệnh cũng có thể trở nên nghiêm trọng. Bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể khiến trẻ phải đối mặt với nguy cơ điếc, chậm phát triển trí tuệ hoặc tử vong.

Những dấu hiệu nhiễm bệnh


Một số vi khuẩn gây viêm màng não có thể sống trong miệng và cổ họng của một số trẻ hoặc người lớn khoẻ mạnh mà không gây hấn gì. Nhưng ở một số trẻ có sức đề kháng kém hoặc đang mắc các bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng huyết, viêm tai, viêm xoang... vi khuẩn và virut dễ dàng thông qua đường máu xâm nhập đến tuỷ sống màng não.

Vi khuẩn gây viêm màng não có thể lây từ người này qua người khác. Bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể khiến trẻ phải đối mặt với nguy cơ điếc, chậm phát triển trí tuệ hoặc tử vong

Biểu hiện ban đầu của bệnh thường chỉ là những triệu chứng nhẹ, chung chung như nhức đầu, sốt, cảm thấy khó chịu trong người… Vì vậy một số người vẫn hay nhầm đây là chứng cảm cúm thông thường. Khi tiến triển nặng hơn, có thể có một số triệu chứng như: đau đầu dữ dội, buồn nôn và nôn mửa, sốt cao, đau họng, đau bụng, đau cứng cổ, đau cơ và rất nhạy cảm với ánh sáng, một số trường hợp còn phát ban. Đến giai đoạn đặc biệt nghiêm trọng, trẻ có thể bị hôn mê hoặc trở nên vô thức. Ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi, những triệu chứng này khó phát hiện vì bé chưa biết thể hiện bằng lời nói. Tuy nhiên có thể nhận thấy một số biểu hiện như bé rất dễ cáu kỉnh, bỏ ăn, nôn mửa hoặc tiêu chảy, bàn tay và bàn chân lạnh, phát ban, thóp phồng lên, có dấu hiệu khó thở hoặc động kinh.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Xét nghiệm tuỷ sống mới biết chính xác

Việc xác định nguyên nhân gây viêm màng não từ siêu vi hay vi khuẩn là cực kỳ quan trọng. Trẻ bị viêm màng não do siêu vi thường dễ khoẻ lại mà không cần có những điều trị đặc hiệu, trong khi viêm màng não do vi khuẩn có thể ảnh hưởng tới mạng sống. Đó cũng là lý do trẻ cần được thực hiện thủ thuật chọc tuỷ sống.

Thủ thuật này là một quy trình, trong đó một chiếc kim rỗng ruột được đặt vào ống tuỷ ở phía dưới lưng. Một lượng nhỏ dịch não tuỷ sẽ được rút ra sau đó. Thủ thuật rất an toàn, không có nguy cơ nào dẫn tới trẻ bị liệt bởi kim được đặt ở phía dưới cùng của tuỷ sống. Bằng xét nghiệm tuỷ sống, bác sĩ sẽ xác định được nguyên nhân viêm màng não do vi khuẩn hay siêu vi, từ đó đưa ra phương án điều trị. Viêm màng não hoàn toàn có thể điều trị thành công và không để lại di chứng nếu được phát hiện sớm.

BS Nguyễn Trí Đoàn
sgtt ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4267 Bí quyết giúp trẻ cao lớn hơn <> Bệnh trẻ em Thu, 22 Jul 2010 07:16:07 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4267
Cơ thể phát triển chiều cao vào những giai đoạn nào?

Chăm sóc y tế

Bạn cần cho con tiêm phòng đầy đủ theo Chương trình tiêm chủng mở rộng để con bạn được bảo vệ khỏi các bệnh nguy hiểm. Việc giữ vệ sinh thân thể, an toàn vệ sinh thực phẩm sẽ giúp con bạn ít bị các bệnh nhiễm khuẩn, ngộ độc, nhờ đó mà con bạn có điều kiện lớn nhanh hơn.
Có ba giai đoạn cơ thể tăng trưởng rất nhanh về chiều cao: một là thời kỳ bào thai: trong 9 tháng mang thai, nếu người mẹ được ăn uống tốt sẽ tăng từ 10-20kg thì con sẽ đạt được chiều cao 50cm lúc chào đời và nặng từ 3kg trở lên. Hai là giai đoạn sơ sinh đến 3 tuổi: 12 tháng đầu trẻ tăng 25cm; 2 năm tiếp theo mỗi năm trẻ cao thêm 10cm nếu được nuôi dưỡng tốt. Ba là thời kỳ dậy thì: con gái từ 10-16 tuổi và con trai từ 12-18 tuổi là tuổi dậy thì. Trong thời gian dậy thì, cơ thể sẽ có 1-2 năm chiều cao tăng vọt từ 8-12cm mỗi năm nếu được nuôi dưỡng tốt. Nhưng trong thực tế, chúng ta không thể biết chính xác năm đó là năm nào nên vẫn phải đảm bảo dinh dưỡng tốt cho trẻ trong suốt thời gian dậy thì để trẻ phát triển. Sau thời kỳ dậy thì, cơ thể trẻ cũng tăng chiều cao nhưng với tốc độ rất chậm, tổng cộng số tăng chiều cao của các năm sau không bằng một năm chiều cao tăng vọt của thời kỳ dậy thì.

Người ta thường ước tính chiều cao của trẻ khi trưởng thành sẽ gấp đôi  chiều cao lúc 2 tuổi (chẳng hạn lúc 2 tuổi trẻ cao 82cm thì khi lớn sẽ cao 1,64m). Hoặc chiều cao lúc trưởng thành bằng chiều cao lúc 10 tuổi nhân với 1,25 (ví dụ khi 10 tuổi trẻ cao 1,4m thì lúc trưởng thành trẻ sẽ cao khoảng 1, 75m). Qua đó chúng ta thấy sự chăm sóc nuôi dưỡng trong các giai đoạn: mang thai, 3 năm đầu và giai đoạn dậy thì là rất quan trọng để phát triển chiều cao của trẻ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Uống sữa giúp trẻ phát triển chiều cao.



Các biện pháp chăm sóc giúp trẻ cao lớn hơn

Các nghiên cứu đều cho thấy chiều cao của con người ảnh hưởng bởi các yếu tố: dinh dưỡng (32%); di truyền (23%); rèn luyện thể lực (20%), môi trường sống, ánh nắng, bệnh tật, giấc ngủ...

Biện pháp dinh dưỡng: có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển chiều cao, thể chất và trí tuệ của trẻ. Phụ nữ khi mang thai cần hiểu rõ là bạn ăn cho mình và cho con. Vì vậy ngoài việc bạn ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng còn phải chú trọng việc ăn uống bổ sung các loại vitamin để giúp thai nhi phát triển tốt. Thời kỳ nhũ nhi cần được bú mẹ hoàn toàn, đến 6 tháng tuổi cho ăn bổ sung. Một ngày cho trẻ ăn 3 bữa ăn chính vào sáng, trưa, tối và thêm 2-3 bữa phụ vào giữa buổi sáng và sau giấc ngủ trưa để giúp trẻ tăng cân, tăng chiều cao hàng tháng đúng tiêu chuẩn. Thức ăn cần đủ 4 nhóm chất là đạm, đường, béo, vitamin và khoáng chất, đồng thời phải phong phú chủng loại  thực phẩm, tốt nhất nên có trên 20 loại thức ăn mỗi ngày.

Các chất dinh dưỡng quan trọng giúp tăng chiều cao gồm: chất đạm (protein) rất cần để cơ thể tăng trưởng và phát triển. Thức ăn chứa nhiều đạm là thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu, đậu nành. Canxi là một khoáng chất quan trọng trong cấu trúc xương (chiếm 99%), làm cho  xương vững chắc và giúp trẻ phát triển chiều cao. Nhu cầu canxi thay đổi theo tuổi, trung bình trẻ từ 6 tháng - 18 tuổi cần khoảng 400 - 700mgCa/ngày,  muốn vậy bạn cần cho con uống từ 500- 750ml sữa mỗi ngày. Thức ăn có nhiều canxi là: sữa, cá, tép, tôm, cua, nghêu, sò, ốc, hến, đậu hũ, các loại rau. Vitamin A: rất cần thiết cho sự tăng trưởng của trẻ, giúp hình thành khung xương... Thức ăn nhiều vitamin A là gan các động vật: cá, bò, lợn, dê, sữa, lòng đỏ trứng, rau có màu xanh đậm, củ quả chín có màu đỏ hay vàng như cà rốt, gấc, đu đủ, xoài chín, cam, đào... Vitamin D: giúp cơ thể hấp thu canxi, giúp tăng tổng hợp chất protein chuyên chở canxi trong máu. Cơ thể hấp thu vitamin D từ thức ăn như dầu gan cá thu, sữa, bơ, phomai, trứng, gan, tôm... và da tự tổng hợp vitamin D dưới tác dụng của ánh sáng. Vì vậy ngoài việc cho con ăn thức ăn có nhiều vitamin D, bạn cần cho con tắm nắng buổi sáng từ 15-30 phút mỗi ngày, cường độ ánh nắng nhẹ và diện tích da bộc lộ càng lớn càng tốt.

Ngoài ra còn các chất có ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao như: sắt, kẽm, iốt. Thức ăn nhiều sắt là: gan, trứng, thịt, cá, đậu đỗ, rau dền, sữa có bổ sung sắt. Thức ăn nhiều kẽm là hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành. Thức ăn nhiều iốt: muối iốt, phomai, trứng gà, sữa, cá biển, rau câu, tảo.

Biện pháp rèn luyện thể lực: sự vận động cơ bắp sẽ  kích thích, đẩy mạnh quá trình chuyển hóa năng lượng, trao đổi chất, thúc đẩy tăng trưởng cơ thể, tăng cường lượng  canxi vào mô xương giúp xương vững chắc hơn và phát triển tốt hơn. Vì lợi ích như vậy, bạn cần hướng dẫn và tạo cho con thói quen tập thể dục hàng ngày với những bài thể dục vừa sức, phù hợp với độ tuổi của trẻ. Bạn có thể tham khảo các bài thể dục hướng dẫn trên truyền hình, trong sách vở và bài thể dục của cháu ở trường để dạy  con luyện tập.

Đảm bảo giấc ngủ ngon cho trẻ: ngủ ngon, ngủ sâu giúp cơ thể tiết hormon tăng trưởng, giúp tăng hấp thu canxi, kích thích xương dài ra và phát triển thể chất toàn diện. Số giờ ngủ tuỳ nhu cầu của mỗi lứa tuổi, song nhìn chung trẻ cần ngủ trên 8 giờ một ngày. Bạn nên tạo cho trẻ được ngủ trong phòng rộng rãi, sạch sẽ, thoáng khí, với một không gian yên tĩnh, đông ấm, hè mát, để con bạn có giấc ngủ sâu và ngủ ngon, bạn sẽ thấy con lớn lên sau mỗi giấc ngủ.        

BS. Ninh Hồng
(suckhoe&doisong) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4247 Sai một li, đi một dặm <> Bệnh trẻ em Mon, 19 Jul 2010 04:54:37 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4247
Từ đó, bệnh nhân cứ “trút tiền” theo toa BS. Khổ nỗi, càng uống thuốc, trẻ càng còi cọc, xanh xao, rối loạn đường tiêu hóa, tiêu chảy… Đặc biệt, thời tiết đang giao mùa, bệnh hô hấp gia tăng, nên việc chẩn đoán nhầm rất dễ xảy ra.

Tiêu chảy vì thuốc kháng sinh

Mỗi ngày, BV ĐH Y Dược TP.HCM phát hiện khoảng 15 BN bị hen suyễn, nhưng các cơ sở y tế lại chẩn đoán nhầm VTPQ, VPQ dạng khò khè hoặc dạng tái đi tái lại. Cầm một xấp sổ khám bệnh, hóa đơn thuốc… mẹ cháu H.T.K., bốn tuổi bức xúc: “Bé K. uống thuốc điều trị VTPQ lâu nay nhưng không giảm bệnh. Mỗi ngày, mua hết 80.000đ đồng thuốc kháng sinh, nhưng lại mắc thêm bệnh tiêu chảy. Bây giờ mới biết cháu bị hen suyễn chứ không phải VTPQ như BS trước đó đã chẩn đoán”.

PGS-TS-BS Lê Thị Tuyết Lan - Trưởng khoa Thăm dò chức năng hô hấp, BV ĐH Y Dược TP.HCM kiêm Chủ tịch Hội Hô hấp TP.HCM cho biết, bé K. bị tiêu chảy do các vi khuẩn có lợi trong đường ruột bị “tận diệt”, hậu quả của việc lạm dụng kháng sinh. Đó là chưa kể, nhiều trẻ đến khám bệnh đều bị chậm lớn, còi cọc, xanh xao, kém ăn… vì dùng nhiều thuốc kháng sinh. Việc chẩn đoán sai còn khiến nhiều bệnh nhi phải sử dụng thêm thuốc corticoid dạng uống để chữa VTPQ. Nếu uống thường xuyên loại thuốc này, người bệnh sẽ bị loét dạ dày, tổn thương đường tiêu hóa.

Một bệnh nhi đang điều trị hen suyễn tại BV Đại học Y dược TP.HCM


ThS-BS Trần Anh Tuấn – Trưởng khoa Hô hấp, BV Nhi Đồng I TP.HCM, giải thích, bệnh VTPQ có những triệu chứng lâm sàng tương tự như bệnh hen suyễn. Ngoài ra, chúng còn có liên hệ mật thiết với nhau, khoảng 30% trẻ bị VTPQ sẽ chuyển thành bệnh hen suyễn. Điều đáng nói, bệnh VTPQ chỉ xảy ra chủ yếu ở trẻ dưới hai tuổi. Nếu trẻ trên ba tuổi vẫn có triệu chứng khò khè hơn một lần trong một tháng hoặc tái đi tái lại hơn ba lần, BS nên nghĩ ngay đến bệnh hen suyễn.

Mặt khác, với những BN lần đầu tiên lên cơn hen suyễn, BS cũng khó phân biệt giữa hen suyễn với VTPQ. Tuy nhiên, nếu tinh ý, BS sẽ cho bệnh nhi xông hơi, phun khí dung – thuốc giãn phế quản sẽ thấy bệnh thuyên giảm. Lúc đó, có thể nghĩ đến hen suyễn, dù đây là lần đầu tiên bệnh nhân lên cơn.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Một bệnh nhi đang điều trị hen suyễn tại BV Đại học Y dược TP.HCM



Ngoài nguyên nhân do tay nghề của BS, một số phụ huynh lại mang tâm lý sợ con bị gắn “mác” hen suyễn, do quan niệm sai lầm rằng hen suyễn là bệnh lây lan, không điều trị được. Trong khi, bệnh hen suyễn không phải là bệnh lây nhiễm, chủ yếu do di truyền và ô nhiễm môi trường. Thực tế, không ít BS thay vì ghi rõ mắc bệnh hen suyễn đã kê toa: “VPQ dạng suyễn, VPQ do co thắt, VPQ do dị ứng” (những thuật ngữ này đã bị WHO khuyến cáo không được sử dụng vì như vậy người bệnh sẽ lơ là trong việc điều trị bệnh hen suyễn).

Giao mùa rất dễ mắc hen suyễn


Hen suyễn là bệnh mạn tính đường hô hấp, thường gặp nhất ở trẻ em, chiếm từ 1-30% dân số. 27% trẻ em từ 12-13 tuổi có triệu chứng “khò khè”. Một nghiên cứu mới đây của BV Nhi Đồng I TP.HCM cho thấy, bệnh nhi hen suyễn chiếm 20-25% trong số các bệnh hô hấp điều trị nội trú và khoảng 29,1% trẻ dưới 15 tuổi bị hen suyễn. Theo BS Trần Anh Tuấn, thời tiết giao mùa là yếu tố hàng đầu khiến trẻ dễ lên cơn hen suyễn. Mỗi năm, số trẻ đến khám hen suyễn gia tăng, cụ thể năm 2009 là 21.000 lượt, tăng 6.000 lượt so với năm 2008.

Trẻ bị hen suyễn có nhiều nguyên do như: di truyền, béo phì, sinh non, từng bị bệnh hô hấp nặng, ô nhiễm môi trường. Những gia đình không có người mắc bệnh đường hô hấp thì 20-30% các bé sẽ khỏi hen suyễn khi quá ba tuổi. PGS Tuyết Lan khuyên, nên điều trị cho trẻ trước tuổi dậy thì vì đây là giai đoạn nội tiết tố tăng trưởng mạnh khiến hiệu quả điều trị cao hơn. Nguyên tắc điều trị hiện nay là dùng thuốc để ngừa cơn hen chứ không đợi lên cơn rồi mới cắt cơn, vì như vậy trẻ dễ tử vong.

Hàng năm, bệnh hen suyễn khiến 100.000 người tử vong trên toàn cầu do không phát hiện hoặc điều trị không đúng cách. Cha mẹ cần đưa trẻ đến BV nếu thấy những dấu hiệu bất thường: ho khò khè, khó thở khi chạy giỡn hay hít phải lông chó mèo, cảm giác "nặng ngực" vào ban đêm hay sáng sớm, triệu chứng tái đi tái lại… Bệnh nhân mắc hen suyễn không nên tham gia những môn thể thao có sự vận động mạnh; phải luôn mang theo thuốc xịt mũi cắt cơn hen và phải xịt 20 phút trước khi chơi những môn thể thao.

Văn Thanh
(PNO) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4233 Cận thị ở trẻ cần được phát hiện sớm <> Bệnh trẻ em Fri, 16 Jul 2010 07:34:17 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4233
Nguyên nhân của cận thị

Hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính gây nên cận thị, nhưng có nhiều yếu tố liên quan đến cận thị trong đó có việc trẻ xem tivi, chơi trò chơi điện tử, sử dụng internet quá nhiều. Bên cạnh đó là phòng học thiếu ánh sáng, tư thế ngồi học và đọc sách không đúng cách, bàn ghế không phù hợp, chưa có bảng chống lóa, môi trường ô nhiễm, thời gian học và đọc sách không hợp lý, ăn uống không đủ chất và cả do nguyên nhân di truyền...


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



TS.BS Vũ Bích Thủy- Khoa Mắt trẻ em Bệnh viện Mắt trung ương cho biết: Mắt cận thị là mắt có trục nhãn cầu dài hơn bình thường hoặc công suất khúc xạ quá lớn, khi đó hình ảnh của vật sẽ hội tụ ở phía trước của võng mạc. Người bị cận thị nhìn xa mờ nhưng nhìn gần vẫn rõ nhờ vào chức năng điều tiết của mắt trừ khi bị cận thị quá nặng. Nếu cận thị không được điều trị kịp thời khiến cho thị lực trở nên kém đi, nhìn mờ ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ và chất lượng cuộc sống của trẻ. Biến chứng của cận thị có thể gây đục dịch kính, thoái hóa võng mạc, bong võng mạc dẫn đến mù lòa.

Cách điều trị


Để điều trị cận thị ở trẻ em, phương pháp phổ biến, thuận tiện, dễ dàng và kinh phí ít nhất là đeo kính gọng. Ngoài ra có thể dùng kính tiếp xúc. Ở nước ta chỉ dùng Laser Excimer chữa cận thị cho người từ 18 tuổi trở lên. Các chuyên gia về mắt cho biết, một cặp kính tốt là: Gọng kính phải phù hợp với khuôn mặt; chiều rộng của gọng, chiều dài của càng kính, cầu tỳ mũi phải phù hợp với khuôn mặt về kích thước, màu sắc và khuôn mẫu. Mắt kính phải đúng tâm trục thị giác; khoảng cách từ kính đến mắt 12mm và độ nghiêng của kính là 12 độ.

Tuy nhiên theo TS.BS Nguyễn Chí Dũng (Bệnh viện Mắt trung ương) ở nước ta, kính thuốc chưa được chấp nhận như một biện pháp điều trị nên chưa được quản lý chặt chẽ. Hiện tỷ lệ trẻ có tật khúc xạ được điều chỉnh kính vẫn rất thấp. Điều này cho thấy, có một tỷ lệ lớn bệnh nhân bị tật khúc xạ có nguy cơ đeo kính không đúng chuẩn.

Phát hiện cận thị thế nào là đúng nhất?

Ở người lớn khi bị cận thị có thể phát hiện sớm, nhưng trẻ em đa số chỉ được phát hiện khi trẻ bắt đầu đi học. Vì thế theo TS Thủy, các bậc cha mẹ khi thấy trẻ có hiện tượng ngồi gần ti vi; đọc sách, truyện quá gần; trẻ hay nheo mắt; nghiêng hoặc quay đầu để nhìn cho rõ; trẻ nheo mắt khi nhìn xa hoặc nghiêng đầu xem ti vi; trẻ hay mỏi mắt, nhức đầu, chảy nước mắt; Thường không thích các hoạt động liên quan đến nhìn xa; gia đình có ông bà, bố mẹ, hay anh chị bị cận thị; trẻ có tiền sử sinh non... cần đưa trẻ tới cơ sở y tế chuyên khoa mắt để được khám, phát hiện và điều trị kịp thời các tật khúc xạ nói chung và cận thị nói riêng, tránh các tai biến do các tật khúc xạ gây nên.

Thu Hương
(daidoanket) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4221 Chăm sóc trẻ bị tim bẩm sinh <> Bệnh trẻ em Wed, 14 Jul 2010 09:49:13 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4221
Nguyên nhân

Rất khó xác định nguyên nhân gây ra tim bẩm sinh (TBS). Một số ít bệnh TBS là do di truyền, phần lớn còn lại do sự tác động của nhiều yếu tố từ môi trường bên ngoài lên bà mẹ lúc mang Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớithai, đặc biệt là trong 3 tháng đầu tiên như: bị cảm cúm, sốt phát ban, nhiễm trùng, bệnh tiểu đường, lupus ban đỏ, uống rượu, uống thuốc bừa bãi, sống trong môi trường có nhiều tia X, tia phóng xạ, hóa chất độc hại. Ngoài ra, các bà mẹ trên 40 tuổi sinh con có tỷ lệ bị TBS cao hơn.

Chăm sóc Trẻ bị TBS

Tất cả trẻ bị TBS vẫn phải tiêm phòng như mọi trẻ bình thường khác. Đối với những trẻ còn đang bú sữa, để tránh bị sặc sữa, không được cho trẻ bú khi nằm, phải bế trẻ lên và để đầu trẻ cao khi bú. Nếu trẻ không bú được nhiều, mẹ nên cho bú nhiều lần hơn bình thường và mỗi lần bú số lượng sữa có thể giảm đi. Đối với trẻ lớn đã ăn cơm, gia đình nên cho trẻ ăn nhạt nhưng vẫn đầy đủ chất bổ dưỡng. Nên cho trẻ ăn chế độ ăn có nhiều rau, trái cây để tránh táo bón. Ngoài ra những trẻ lớn bị suy tim chỉ nên uống nước khi khát. Ngược lại những trẻ bị TBS tím, máu bị cô đặc nhiều, nên uống nhiều nước. Trẻ đang độ tuổi đi học vẫn có thể tiếp tục đến trường; gia đình cần kết hợp với nhà trường để miễn cho trẻ những hoạt động nặng cần phải gắng sức như chơi những môn thể thao đòi hỏi sự gắng sức cao độ, hoặc lao động nặng. Khi trẻ đã bị suy tim nên cho trẻ nằm đầu cao khi ngủ.

Trẻ bị TBS rất dễ bị viêm phổi, để tránh biến chứng này gia đình nên giữ trẻ ấm khi trời lạnh, không cho trẻ ở những nơi có nhiều khói bụi, không nên hút thuốc lá ở những chỗ trẻ ở. Nếu trong gia đình có người mắc các bệnh ho, cảm cúm thì nên tránh xa trẻ, không nên tiếp xúc với trẻ. Ngoài ra trẻ TBS cũng dễ bị nhiễm trùng vùng răng miệng, từ đó sẽ dẫn tới nhiễm trùng máu và nội mạc tim, rất nguy hiểm. Chính vì thế gia đình nên hướng dẫn trẻ cách đánh răng sau mỗi bữa ăn, khám bác sĩ nha khoa định kỳ 6 tháng/lần. Nếu cần nhổ răng hay làm các thủ thuật, phẫu thuật có gây chảy máu phải báo cho bác sĩ biết trẻ bị TBS để được uống hoặc tiêm kháng sinh dự phòng trước và sau thủ thuật, phẫu thuật.

Có phải tất cả đều phải dùng thuốc?

Về điều trị, không phải tất cả các trẻ bị TBS đều cần dùng thuốc, bác sĩ sẽ cho các loại thuốc khác nhau tùy theo loại bệnh tim và mức độ nặng nhẹ của bệnh. Có rất nhiều loại thuốc để điều trị TBS, các loại này đều dùng không đúng chỉ định có thể có hại cho trẻ. Chính vì thế gia đình chỉ cho trẻ uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ, không tự động ngưng thuốc khiến bệnh sẽ nặng hơn, không tự động tăng hoặc giảm liều thuốc vì sẽ nguy hiểm cho trẻ. Trong khi dùng thuốc nếu trẻ xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào khác thường, gia đình nên báo ngay cho bác sĩ biết.

Trẻ bị TBS nên tái khám định kỳ mỗi tháng, 2 tháng, 3 tháng hay 6 tháng tùy theo chỉ định của bác sĩ. Dù trẻ có bình thường cũng nên đi tái khám theo lịch hẹn để bác sĩ đánh giá diễn tiến của bệnh, phát hiện các biến chứng cũng như điều chỉnh lại liều lượng thuốc cho phù hợp với cân nặng tăng dần của trẻ. Nên cho trẻ khám lại ngay nếu có bất kỳ triệu chứng nào khác thường như: sốt, ho, tiêu chảy, nôn mửa, phù, tiểu ít, bỏ bú, quấy khóc, thở mệt, rên rỉ, lừ đừ hay bứt rứt lên cơn tím tái, co giật, hôn mê.    

BS. Vũ Minh Phúc
(suckhoe&doisong) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4215 Lựa chọn mới cho trẻ bị cận thị nặng <> Bệnh trẻ em Tue, 13 Jul 2010 10:05:36 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4215
Nhiều ưu điểm khi điều trị cận thị bằng phương pháp mới

TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich, Bệnh viện Mắt quốc tế Việt Nga cho biết, để điều chỉnh tật khúc xạ, ngoài việc đeo kính và điều trị nội khoa, đối với các trường hợp cận thị tiến triển hoặc cận thị nặng, trước đây người ta dùng phương pháp rạch giác mạc hình nan hoa, làm thay đổi hình thể giác mạc và bệnh nhân nhìn rõ hơn. Tuy nhiên, phẫu thuật này dễ gây ra nhiều biến chứng nặng nề: không được tốt và ổn định, gây mờ đục giác mạc, gây mù. Năm 1983, người ta phát hiện ra rằng tia laser excimer có tác động làm thay đổi hình thể giác mạc mà không làm tổn hại phần còn lại. Kỹ thuật này không phải dùng những đường rạch giác mạc theo hình nan hoa, hình thể giác mạc được làm thay đổi dưới tác động của laser. Sự bào mòn giác mạc được thực hiện tinh xảo làm cho một phần mô của giác mạc như bị "bốc hơi" từ bề mặt giác mạc. Phẫu thuật có độ chính xác cao nên cho kết quả ổn định, giảm được đáng kể các biến chứng phẫu thuật. Tuy nhiên, với phương pháp này, từ 2 - 4 ngày của giai đoạn phục hồi là thời gian bệnh nhân phải chịu cảm giác khó chịu nhất. Đó là thời gian giác mạc biểu mô hoá, bệnh nhân có cảm giác sợ ánh sáng, thấy cộm, đau nhức nhẹ và còn chưa nhìn rõ. Thời gian thích nghi sau mổ thường kéo dài khoảng 3 - 4 tuần. Hiện nay, phổ biến là phương pháp lasik. Bằng một dụng cụ chuyên dụng, người ta tạo một vạt giác mạc rồi nâng lên để bộc lộ phần giác mạc phía dưới. Phần giác mạc được bộc lộ này sẽ chịu tác động để thay đổi cấu trúc nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra, sau đó vạt giác mạc sẽ được đặt lại vào vị trí cũ. Phương pháp này đã hạn chế được các nhược điểm của các phương pháp trên. Tuy nhiên, nó chỉ thực hiện được ở các bệnh nhân trên 18 tuổi. Đặc biệt, với những bệnh nhân có tật khúc xạ không ổn định do trục nhãn cầu bị kéo dài, phương pháp lasik không đáp ứng được yêu cầu về cơ chế bệnh sinh.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cấu tạo của mắt


Để ngăn ngừa cận thị tiến triển, đặc biệt giúp nhãn cầu ổn định, các chuyên gia Nga đã nghiên cứu và ứng dụng thành công phương pháp tạo hình củng mạc. TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich cho biết, đây là loại phẫu thuật nhằm gia cố củng mạc (lớp màng ngoài cùng của nhãn cầu). Phẫu thuật này không giúp tăng thị lực cho bệnh nhân mà ngăn chặn sự tiến triển của cận thị do trục nhãn cầu bị kéo dài, nhờ đó ngăn chặn sự suy giảm thị lực và ổn định cận thị. Phương pháp tiến hành rất đơn giản, trẻ trên 10 tuổi gây tê tại chỗ, dưới 10 tuổi gây mê. Thông qua một vết cắt rất nhỏ trong mắt, các chuyên gia  sẽ đưa vào thành sau của nhãn cầu bốn miếng ghép củng mạc, gắn chặt vào củng mạc của bệnh nhân giúp củng mạc bền chắc, nhờ đó nhãn cầu không bị kéo giãn ra, đồng thời nó có tác dụng hoạt huyết cho nhãn cầu giúp ngăn chặn thoái hóa võng mạc ngoại vi, một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân cận thị nặng và tiến triển.

TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich cho biết, chỉ định của phẫu thuật này là những bệnh nhân bị cận thị từ 3D trở lên và tăng dần hàng năm. Sau phẫu thuật 5 - 7 ngày, bệnh nhân bình phục mà không phải áp dụng chế độ sinh hoạt đặc biệt nào, chỉ cần tránh tiếp xúc hay va đập trực tiếp vào mắt. Đặc biệt, phẫu thuật gần như không có chống chỉ định cũng như tác dụng phụ nghiêm trọng.

Không chủ quan với tật khúc xạ

Các chuyên gia về mắt cho biết, nhiều người cứ nghĩ cận thị là một tật khúc xạ đơn giản, chỉ cần đeo kính nhưng thực tế, cận thị tiến triển nếu không được điều trị sẽ gây thoái hóa mắt, mất thị lực và mù lòa. Hiện nay, đây là căn bệnh học đường đang có chiều hướng gia tăng mạnh ở cả trẻ em thành phố và nông thôn. Các bác sĩ cho hay, đối với các bệnh về mắt ở trẻ gây ảnh hưởng đến khả năng nhận biết hình thể, sử dụng bàn tay, sự nhanh nhạy, năng động, giao tiếp xã hội... gây ra nhiều hạn chế trong việc học tập và giao tiếp, khám phá thế giới xung quanh. Đặc biệt, các bệnh về mắt còn làm cho quá trình giảm thị lực và lão hóa xảy ra nhanh hơn, có thể dẫn tới mù lòa.  

Theo TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich, phần lớn cận thị ở trẻ là do trục nhãn cầu bị kéo dài ra nên hình ảnh sẽ rơi trước võng mạc, thay vì rơi đúng trên võng mạc nên trẻ buộc phải nhìn gần. Khi trục nhãn cầu bị kéo dài ra dẫn tới cấu trúc bên trong của mắt cũng bị kéo giãn, đặc biệt là võng mạc. Từ đó sẽ xuất hiện những thay đổi do đáy mắt bị thoái hóa, hậu quả cuối cùng là mất thị lực không hồi phục. Đối với những trường hợp nhẹ, ít tiến triển thì trẻ có thể đeo kính nhưng với những trường hợp tiến triển nhanh, độ cận thị ngày một gia tăng thì các bậc cha mẹ nên cho trẻ đi khám và lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất.

Hà Anh
(suckhoe&doisong) ]]>